Thư viện Đạo Quán – trang 25
3936 nội dung · trang 25/79
- Bản đồ lòng bàn tay: phân biệt các đường và gò
Hình vẽ là lòng bàn tay trái, ngón cái ở bên phải người xem. Số 1 là tâm đạo, nằm sát chân các ngón; số 2 là trí đạo, chạy qua giữa lòng tay; số 3 là sinh đạo, cong ôm phần thịt dưới ngón cái; số
- Sinh đạo dài, rõ, liền mạch: thế tay ổn định
Tìm điểm bắt đầu giữa ngón cái và ngón trỏ, rồi lần theo đường cong ôm gò Kim Tinh xuống gần cổ tay. Hình này tô đỏ một sinh đạo liền mạch; các đường xám chỉ dùng định hướng. “Dài” là độ lan của
- Sinh đạo ngắn: đọc đúng đoạn kết thúc
Nét đỏ bắt đầu đúng vùng sinh đạo nhưng dừng ở nửa dưới gò Kim Tinh. Đầu và cuối đều phải được thấy trên ảnh rõ. Nếu đoạn dưới bị bóng che hoặc nhạt màu, gọi là “chưa thấy rõ”, không kết luận nga
- Sinh đạo đứt đoạn: thế gián đoạn và đường nối
Số 1 chỉ đoạn trên, số 2 chỉ khoảng hở, số 3 chỉ đoạn tiếp tục bên dưới. Nét đỏ phía dưới tiếp tục theo vòng sinh đạo, nên đây là dạng đứt đoạn, không phải đường ngắn. Số 4 là vân phụ phải kiểm t
- Hai nét sinh đạo song hành: phân biệt nét chính và phụ
Nét đỏ là sinh đạo chính; nét vàng nằm bên trong, chạy gần song song một phần vòng ôm. Số 3 chỉ khoảng cách giữa hai nét. Hai đường không nhất thiết có cùng độ dài hoặc cùng điểm khởi đầu.
- Vân đảo và chuỗi trên sinh đạo: nhận diện điểm khép kín
Một vân đảo là hai nhánh tách ra rồi nhập lại, tạo một khoảng khép kín như hình bầu dục. Chuỗi là nhiều vòng nhỏ nối tiếp. Hình tô một đảo ở sinh đạo, không đặt tên cho mọi nếp da li ti.
- Trí đạo thẳng, rõ: thế tư duy thực tế
Nét đỏ đi từ phía giữa ngón cái và ngón trỏ qua lòng bàn tay, nằm dưới tâm đạo. Điểm cuối hướng ra mép ngoài, không võng mạnh xuống vùng Thái Âm. Số 1–3 lần lượt chỉ điểm đầu, phần giữa và đầu cu
- Trí đạo hướng Thái Âm: nét cong và nhánh cuối
Nét đỏ đi ngang rồi chếch xuống mép ngoài phần dưới lòng tay. Vùng đích là gò Thái Âm, phía đối diện gốc ngón cái. Hình có một nhánh cuối để phân biệt nhánh thật với nếp giao cắt.
- Tâm đạo cong: điểm cuối dưới ngón trỏ
Tâm đạo là nếp ngang phía trên, xuất phát gần mép dưới ngón út rồi hướng về vùng ngón trỏ hoặc ngón giữa. Hình tô dạng cong, điểm cuối nằm gần gò Mộc Tinh dưới ngón trỏ.
- Tâm đạo có nhánh: phân biệt chạc và vân cắt
Hình chỉ hai nhánh xuất phát từ cùng đoạn cuối tâm đạo: một nhánh hướng ngón trỏ, nhánh còn lại hướng khe giữa trỏ và giữa. Nét chính vẫn nằm phía trên trí đạo.
- Định mệnh rõ: đường dọc hướng ngón giữa
Định mệnh là đường dọc hướng lên gò Thổ Tinh dưới ngón giữa. Hình tô đường từ phần dưới lòng tay lên trên. Đường Thái Dương hướng ngón áp út là đường khác, dù một số bài dùng chung tên “công danh
- Định mệnh đứt, đổi hướng: thế nghề nghiệp phải xoay xở
Nét dọc trên hình có khoảng gián đoạn tại giữa lòng tay, rồi một đoạn khác tiếp tục lệch sang bên. Đầu trên vẫn hướng ngón giữa. Độ lệch và khoảng đứt được đánh số riêng.
- Bàn tay chữ M: bốn nét tạo hình và điều kiện nhận diện
Chữ M là hình được nhìn từ tổ hợp sinh đạo, trí đạo, tâm đạo và một nét dọc định mệnh. Trên hình, các đoạn được tô riêng để thấy chúng cùng tạo một cấu trúc; không phải cứ có bốn đường là thành c
- Bàn tay chữ Nhất: một nếp ngang nổi bật
Hình có một nếp đỏ ngang nổi bật qua lòng tay, thay vì hai nếp ngang tách rõ như mẫu cơ bản. Sinh đạo vẫn cong ôm gốc ngón cái. Cần nhìn cả lòng tay để thấy một nếp ngang thật hay hai nếp chỉ gần
- Dấu chữ X: điểm giao hai vân nhỏ
Dấu X trên hình nằm giữa vùng trí đạo và tâm đạo. Hai vạch chéo phải cắt nhau tại một điểm, không phải vòng kín. Ghi dấu nằm trên gò hay trong vùng trung tâm vì đây là hai vị trí khác nhau.
- Các gò bàn tay: bản đồ Mộc, Thổ, Kim và Thái Âm
Các vùng đệm dưới ngón trỏ, giữa, áp út và út lần lượt được gọi Mộc Tinh, Thổ Tinh, Thái Dương, Thủy Tinh. Gốc ngón cái là Kim Tinh, phần thấp ở mép ngoài là Thái Âm. Hình đặt số ngay trên vùng c
- Nhiều vân cắt: thế tay vất vả và điều kiện lời luận
Hình minh họa các vạch nhỏ cắt qua đường chính và một vùng lưới. “Nhiều vân” phải nêu vân nằm ở đường nào, cắt ngang hay chạy song hành. Không đếm mọi nếp da của cả bàn tay rồi kết luận xấu.
- Đường hôn nhân ở cạnh tay: số nét không phải số lần cưới
Đường hôn nhân là các vạch ngắn ở cạnh lòng tay dưới ngón út, phía trên tâm đạo. Hình nhìn thẳng đánh dấu vị trí; khi chụp thực tế cần thêm ảnh cạnh tay mới thấy rõ số nét.
- Mặt tròn: đường viền mềm và tỷ lệ dài–rộng
Chiều dài từ chân tóc đến cằm và chiều rộng gò má gần nhau; đường hàm và cằm cong mềm. Má đầy đơn thuần chưa đủ gọi mặt tròn.
- Mặt vuông: nhận diện góc hàm, tránh gán tính nết
Ba bề ngang trán, gò má và hàm tương đối gần nhau; góc hàm rõ, cằm ít thu nhọn. Hình chỉ đường đo hàm, không biến khuôn mặt thành ô vuông tuyệt đối.
- Mặt trái xoan: gò má rộng vừa, hàm thu mềm
Chiều dọc lớn hơn chiều ngang; gò má là vùng rộng tương đối, đường hàm thu mềm xuống cằm. Trán và cằm không tạo góc nhọn như dáng kim cương.
- Mặt dài: trục dọc nổi bật và các biến thể
Chiều từ chân tóc đến cằm nổi bật so với bề ngang gò má. Có mặt dài với hàm vuông, cằm tròn hoặc viền trái xoan; “dài” mô tả tỷ lệ trước khi mô tả góc.
- Mặt tam giác xuôi: hàm rộng hơn trán
Trán hẹp tương đối, phần dưới khuôn mặt và góc hàm rộng hơn. Hình tô bề ngang hàm và trán để phân biệt tam giác xuôi với tam giác ngược.
- Mặt kim cương: gò má nổi, trán và hàm hẹp
Bề ngang gò má nổi bật hơn trán và hàm; đường viền thu về phía trán và cằm. Điểm rộng nhất ở vùng giữa, không ở hàm như tam giác xuôi.
- Mặt trái tim: phần trên rộng, cằm thu
Phần trán và vùng trên tương đối rộng, viền mặt thu xuống cằm. Đường chân tóc có thể có đỉnh giữa nhưng không phải điều kiện bắt buộc.
- Tam đình và ngũ quan: trình tự đọc một khuôn mặt
Thượng đình đi từ chân tóc đến chân mày; trung đình từ chân mày đến chân mũi; hạ đình từ chân mũi đến cằm. Đường phân vùng trên hình là mốc hình thái, không phải đường tuổi chính xác. Không thay
- Lông mày: đầu, thân, đuôi và thế giao nhau
Đầu mày gần sống mũi; thân mày là phần giữa; đuôi ở phía thái dương. Khoảng giữa hai đầu mày là vùng cần quan sát khi nói mày giao nhau. Hình đánh dấu đường mày tự nhiên, không đánh giá phần tran
- Các dạng mắt: khoảng cách, mí, đuôi và bọng
Số 1 chỉ khoảng cách hai khóe trong; số 2 là nếp mí; số 3 là đuôi mắt; số 4 là vùng bọng dưới mắt. Mắt gần nhau, mắt sâu, mắt xếch, sụp mí và bọng lớn là các thuộc tính khác nhau, có thể cùng xuấ
- Tướng mũi: sơn căn, sống, chuẩn đầu và cánh mũi
Sơn căn nằm giữa hai mắt ở gốc mũi; sống kéo xuống phần giữa; chuẩn đầu là đầu mũi; cánh mũi nằm hai bên chân mũi. Hình đánh số từng vùng để tránh gọi toàn bộ mũi là “sống”.
- Tai, nhân trung và miệng: đọc đúng từng bộ phận
Vành tai là đường viền ngoài, dái tai là phần dưới; nhân trung là rãnh giữa chân mũi và môi trên; khóe miệng nằm hai đầu môi. Không nhầm nhân trung với chiều dài toàn hạ đình.
- Nốt ruồi trên mặt: định vị trước khi luận
Hình đặt các điểm mẫu ở trán, vùng mày, cánh mũi và gần khóe miệng. Đây là bản đồ vị trí, không phải bốn nốt ruồi mà một người bắt buộc phải có. Ghi trái/phải theo người được xem, vì trái trên ản
- Nốt ruồi lòng bàn tay: phân biệt các gò và đường
Hình đánh dấu gò Mộc Tinh dưới ngón trỏ, gò Kim Tinh dưới ngón cái, trung tâm lòng tay và vùng cổ tay. Nốt trên một đường khác với nốt nằm cạnh đường; phải ghi khoảng cách và bên tay.
- Nốt ruồi lòng bàn chân: ngón, vòm và gót
Các số chỉ vùng dưới ngón, phần trước lòng chân, vòm giữa và gót. Lòng chân khác mu chân và mắt cá. Hình không có thang thời gian hay thang tài lộc.
- Tướng dáng đi: nhịp bước, trục thân và cách luận
Hình chỉ trục đầu–thân, hướng vai, nhịp tay và điểm đặt chân. Dáng đi phải nhìn trong nhiều bước, không lấy một khung hình làm đại diện. Bước nhanh/chậm, bước đều/khựng và thân thẳng/ngả là các m
- Vai và cổ: hình dáng, tư thế và lời luận có điều kiện
Vai ngang, vai xuôi và vai bè nói về đường viền và bề ngang. Cổ dài/ngắn là tương quan với đầu, vai và thân; số ngấn da là một thuộc tính khác. Hình vẽ các mốc, không xếp người thành hạng tốt/xấu
- Chọn đất mộ: minh đường, điểm tựa và dòng nước
Phía sau là điểm tựa, trước mộ là minh đường, hai bên là phần bao bọc, thấp hơn là đường thoát nước. Thanh Long và Bạch Hổ trong hình được ghi theo người đứng ở huyệt nhìn ra trước; đó không phải
- Hướng mộ: thống nhất đầu, chân, bia và số đo
Một hồ sơ phải vẽ đầu, chân, vị trí bia và mũi tên hướng đang dùng. Các tài liệu có thể gọi hướng theo cách khác nhau; nếu chỉ ghi “mộ hướng Nam” mà thiếu mũi tên, người đọc sau không kiểm được.
- Mộ phần: nhận diện thế ngập, lấn lối và nền không vững
Sơ đồ chỉ chỗ thấp dễ đọng nước, lối đi bị án và mép nền có dấu xói. Đây là lỗi có hình ảnh, đo đạc hoặc dấu vết; không suy chỉ từ việc gia đình gặp khó khăn rằng mộ đang có lỗi.
- Tảo mộ Thanh Minh: trình tự chăm sóc và tưởng niệm
Thanh Minh là tiết khí trong năm dương lịch, không phải một ngày âm cố định lặp lại hằng năm. Lịch đi tảo mộ của từng gia đình có thể chọn ngày thuận tiện trong dịp này; cần ghi ngày dương thực đ
- Cải táng và dời mộ: hồ sơ cần có trước khi chọn ngày
Cải táng là chuyển sau quá trình an táng theo phong tục; dời mộ có thể do quy hoạch hoặc điều kiện hiện trạng. Không phải mọi mộ đều cần cải táng và không chỉ dựa một lời đoán xấu để quyết định.
- Can Chi vợ chồng: ghi hợp, xung và hại riêng
Thiên can và địa chi là hai trường riêng. Nạp âm và cung phi thuộc những phép khác. Không cộng ba nhãn hợp/khắc thành một điểm phần trăm hạnh phúc khi chưa có thang điểm công bố.
- Nạp âm vợ chồng: sinh–khắc không phải Dụng thần
Nạp âm lấy từ cặp Can Chi của năm trong vòng 60, không lấy màu yêu thích hoặc số cuối năm sinh. Hai người cùng năm âm có cùng nạp âm dù giới tính khác nhau.
- Cung phi đôi lứa: đọc quan hệ tám quẻ trong app
Công cụ gốc của Đạo Quán dùng cửa sổ Lập Đông → trước Lập Xuân cho cung phi; Can Chi và nạp âm dùng năm âm UTC+7. Quy ước này đã có từ bản trước, được giữ nguyên. Nếu nguồn tra theo năm khác, cần
- Hóa giải xung khắc gia đạo: từ tên phép luận đến việc cần sửa
Tách nhãn xung/khắc trong bảng tuổi khỏi vấn đề đang xảy ra: thiếu thời gian, bất đồng tiền, tiếng ồn hoặc bố trí nhà bất tiện. Không lấy một cuộc cãi vã làm bằng chứng đủ rằng cặp tuổi khắc nhau
- Cưới hỏi: tuổi, lịch lễ và thống nhất hai gia đình
Dạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu và tiệc là các mốc có thể khác ngày. Lời luận chọn ngày phải nói đang chọn cho việc nào; không mặc định mọi hoạt động phải cùng một giờ.
- Kim Lâu làm nhà: phép dư 9 và ví dụ tính
Tuổi mụ = năm xét − năm sinh âm lịch + 1. Lấy tuổi mụ chia 9; dư 1, 3, 6 hoặc 8 được gọi phạm Kim Lâu trong phép đang dùng. Dư 0, 2, 4, 5, 7 không phạm theo phép này.
- Hoang Ốc: sáu cung, mốc chục và bước tuổi lẻ
Nhất Cát, Nhì Nghi, Tam Địa Sát, Tứ Tấn Tài, Ngũ Thọ Tử, Lục Hoang Ốc. Nhất, Nhì, Tứ được gọi cát; Tam, Ngũ, Lục được gọi hung trong phép này. Hình tô màu theo đúng ba nhóm ấy.
- Tam Tai: bốn nhóm tuổi và ba năm tương ứng
Thân–Tý–Thìn gặp các năm Dần–Mão–Thìn. Dần–Ngọ–Tuất gặp Thân–Dậu–Tuất. Hợi–Mão–Mùi gặp Tỵ–Ngọ–Mùi. Tỵ–Dậu–Sửu gặp Hợi–Tý–Sửu. Hình tách bốn hàng để đối chiếu.
- Mượn tuổi làm nhà: người đại diện và các mốc lễ
Mượn tuổi là nhờ người phù hợp theo phép gia đình chọn đứng chủ lễ ở các mốc làm nhà. Việc này không tự chuyển quyền sở hữu nhà hoặc thay các nghĩa vụ của chủ công trình.
- So sánh năm xây nhà: ba phép tính trong một bảng
Xác định năm sinh âm, tạo danh sách năm dự kiến, tính tuổi mụ từng năm rồi chạy ba phép riêng. Năm sinh 1990 dưới đây là ví dụ cố định để kiểm công cụ, không phải bảng chung cho mọi người.